24/08/2026
Năm sáu mươi lăm tuổi, tôi ngồi trước cổng khu du lịch bán nước suối, mỗi chai đúng một tệ.
Tôi cứ tưởng quãng đời còn lại của mình sẽ trôi qua bình lặng như thế, sáng ra ngồi bán vài chai nước, chiều thu dọn về nhà, chẳng tranh chẳng giành với ai.
Cho đến một buổi chiều, ba người mặc đồng phục tới kiểm tra, nói tôi kinh doanh không phép rồi phạt hai nghìn tệ, tương đương gần bảy triệu đồng.
Du khách xung quanh thấy vậy liền giơ điện thoại quay lại, sau đó đoạn video bị đăng lên mạng.
Sáng hôm sau, chiếc điện thoại cũ kỹ đặt trên tủ đầu giường rung đến mức suýt rơi xuống đất. Tôi đeo kính lão, nheo mắt nhìn màn hình rồi sửng sốt.
111 cuộc gọi nhỡ.
Những cái tên hiện lên trong danh bạ khiến bàn tay cầm điện thoại của tôi bất giác run run.
Tôi chợt tò mò, không biết đám nhóc bốn mươi năm trước từng bị tôi cầm roi tre đuổi chạy khắp sân trường, giờ đây rốt cuộc đã trở thành người thế nào rồi.
1
Tôi tên Chu Đức Thuận, năm nay sáu mươi lăm tuổi, không vợ không con, sống một mình đã nhiều năm.
Nói không có con cũng chưa hẳn đúng, bởi con ruột thì không có, nhưng học trò từng gọi tôi một tiếng “thầy” thì nhiều đến mức chính tôi cũng chẳng nhớ hết.
Hồi còn trẻ, tôi tình nguyện lên vùng núi sâu Quý Châu dạy học.
Ban đầu chỉ định ở vài năm, nào ngờ vừa quay đầu đã trôi qua hai mươi sáu năm.
Từng lớp học sinh đến rồi tốt nghiệp, tính sơ sơ cũng phải hơn ba trăm đứa từng ngồi dưới bục giảng của tôi.
Sau này trường trong núi bị sáp nhập, tuổi tôi cũng lớn, chân cẳng không còn chịu nổi những con đường núi quanh co nữa nên mới chuyển tới thành phố du lịch này dưỡng già.
Tôi thuê một căn phòng nhỏ trong khu dân cư cũ, tiền thuê một nghìn hai trăm tệ mỗi tháng.
Lương hưu hơn ba nghìn, một mình ăn uống đơn giản thì vẫn đủ sống.
Chỉ có điều ở nhà cả ngày buồn quá.
Không còn tiếng học sinh đọc bài, cũng chẳng có đứa nào chạy tới mách: “Thầy Chu, Thiết Trụ lại đánh nhau!” Thế là tôi mua một chiếc thùng xốp cũ, thêm cái ghế nhựa thấp, ngày ngày ra trước cổng khu du lịch ngồi bán nước.
Nước suối lấy sỉ ở siêu thị bốn hào một chai, tôi bán một tệ.
Thật ra chẳng kiếm được bao nhiêu, tôi chỉ muốn ngồi nơi đông người, thi thoảng có khách hỏi đường thì chỉ giúp, có người dừng chân nghỉ thì nói với nhau vài câu.
Người già rồi, có tiếng người bên cạnh cũng thấy ngày tháng bớt dài.
Hôm ấy là thứ Ba, hơn hai giờ chiều. Nắng gay gắt đến mức mặt đường như bốc hơi, tôi đang ngồi nheo mắt ngủ gật thì một giọng nói vang lên trước mặt:
“Bác ơi, chỗ này của bác có giấy phép không?”
Tôi mở mắt, thấy ba thanh niên mặc đồng phục đang đứng trước thùng nước. Người đi đầu khoảng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, trong tay kẹp một tập hồ sơ, vẻ mặt nghiêm túc.
Tôi ngẩn ra: “Giấy phép gì?”
Cậu ta đáp: “Giấy phép kinh doanh, giấy phép sử dụng địa điểm, giấy chứng nhận vệ sinh an toàn. Bác đang kinh doanh không phép, bác có biết không?”
Tôi cúi đầu nhìn mười mấy chai nước trong thùng xốp rồi lại ngẩng lên: “Cậu thanh niên, tôi chỉ bán vài chai nước thôi…”
“Quy định là quy định.” Cậu ta mở tập hồ sơ, giọng đều đều. “Theo điều 37 quy định quản lý trật tự đô thị, kinh doanh không phép bị phạt hai nghìn tệ.”
Hai nghìn.
Lương hưu cả tháng của tôi mới hơn ba nghìn.
Hai người đứng phía sau đã bắt đầu chụp ảnh làm bằng chứng. Máy ảnh hướng vào chiếc thùng xốp cũ, mấy chai nước bên trong rồi đến cái ghế nhựa nhỏ, liên tục vang lên tiếng tách tách.
Tôi không tranh luận.
Nói cho cùng, tôi quả thật không có giấy phép, người ta làm theo quy định, cãi nhau cũng chẳng giải quyết được gì.
Tôi chống đầu gối đứng lên, khớp chân phát ra một tiếng “rắc”, sau đó cúi người lấy từ trong lớp áo ra một túi vải nhỏ được may tới ba lớp.
Trong túi là số tiền tôi dành dụm gần nửa năm.
Tôi ngồi xuống, chậm rãi đếm từng tờ một. Có tờ năm tệ, mười tệ, xen lẫn mấy tờ một trăm đã nhăn nhúm.
Tôi đếm hai lần, tổng cộng hai nghìn không trăm ba mươi tệ.
Hai nghìn đưa đi.
Ba mươi tệ còn lại tôi cẩn thận gấp lại, nhét vào túi.
Đó là tiền đi chợ ngày mai.
Khi tôi đưa xấp tiền qua, bàn tay có hơi run.
Có lẽ vì trời nóng, cũng có lẽ tuổi tác lớn rồi, tay chân chẳng còn vững như trước.
Cậu thanh niên đi đầu vừa nhận tiền thì động tác bỗng khựng lại.
Tôi thấy ánh mắt cậu ta thay đổi trong chớp mắt, nhưng cuối cùng cậu ta vẫn chẳng nói gì, chỉ kẹp tiền vào hồ sơ rồi quay người rời đi rất nhanh.
Tôi ngồi xuống đậy nắp thùng xốp, gấp chiếc ghế nhựa lại. Lúc ấy xung quanh đã có khá nhiều du khách vây xem, bảy tám người đều cầm điện thoại quay video.
Một cô gái đeo kính râm không nhịn được, lớn tiếng nói: “Bắt nạt người già thì giỏi lắm à? Ông cụ chỉ bán mấy chai nước mà phạt tận hai nghìn?”
Một thanh niên khác cũng hét theo bóng lưng ba người mặc đồng phục: “Có bản lĩnh thì đi xử lý mấy quán ăn chiếm hết vỉa hè kia kìa! Bắt một ông già bán nước để ra oai làm gì?”
Tôi vội xua tay: “Không sao, không sao. Người ta cũng chỉ làm theo quy định thôi, mọi người đừng nói nữa.”
Nói xong, tôi kẹp thùng xốp dưới nách, tay kia xách chiếc ghế nhỏ rồi chậm rãi đi về phía trạm xe buýt.
Tối hôm ấy, tôi về nhà nấu một bát mì, tiện tay đập thêm quả trứng.
Ăn được nửa bát, nhớ tới hai nghìn tệ vừa mất, đôi đũa trong tay vẫn khựng lại một lát.
Hai nghìn đấy.
Tôi phải tiết kiệm khá lâu mới dành được.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi chỉ thở dài.
Thôi vậy.
Của đi thay người.
Ăn xong, tôi rửa bát, uống thuốc huyết áp rồi đúng chín giờ rưỡi lên giường ngủ. Một đêm yên ổn, chẳng mộng mị gì.
Tôi hoàn toàn không biết rằng ngay trong đêm đó, đoạn video trước cổng khu du lịch đã lan khắp mạng xã hội.
2
Năm giờ rưỡi sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc như thường lệ. Người già ít ngủ, vừa mở mắt tôi đã đưa tay mò chiếc điện thoại trên tủ đầu giường để xem giờ.
Không ngờ vừa chạm vào, điện thoại liền rung liên hồi.
“Rè rè rè…”
Rung mãi không chịu dừng.
Tôi cau mày đeo kính lão, bấm sáng màn hình rồi lập tức ngây người.
111 cuộc gọi nhỡ.
Tôi còn tưởng mắt mình có vấn đề, tháo kính ra lau một lượt rồi đeo lại nhìn lần nữa.
Vẫn là 111.
Danh sách người gọi kéo dài kín màn hình. Có những cái tên tôi vừa nhìn đã nhớ ngay, cũng có những người dù đã lưu số nhưng nhiều năm rồi chẳng còn liên lạc.
Lý Thiết Trụ.
Thằng nhóc này năm xưa mang súng cao su tới trường bắn chim, bị tôi bắt được rồi phạt đứng suốt một buổi chiều.
Trương Tiểu Yến.
Cô bé ít nói nhất lớp năm ấy, lúc nào cũng ngồi ngay ngắn ở bàn đầu. Sau này nghe nói con bé thi đỗ đại học rồi lên Bắc Kinh.
Vương Đại Hà.
Thằng ranh này thì tôi nhớ càng rõ. Ngày tốt nghiệp, nó dám lén lấy một chai Nhị Oa Đầu của tôi, bị tôi cầm gậy đuổi chạy gần ba dặm đường núi.
Ngoài những cái tên quen thuộc ấy còn có rất nhiều số lạ.
Tôi đang ngồi ngẩn người thì điện thoại lại rung lên.
Người gọi là Lý Thiết Trụ.
Tôi bấm nghe: “Alo?”
“THẦY CHU!!!”
Giọng bên kia oang oang đến mức tôi suýt ném luôn điện thoại xuống giường.
“Thiết Trụ, em nói nhỏ thôi! Tai thầy vẫn còn dùng được!”
Nó hoàn toàn không để ý, cuống quýt hỏi: “Thầy có sao không ạ? Có bị thương ở đâu không? Bọn họ có xô đẩy thầy không?”
Tôi càng nghe càng khó hiểu: “Bị thương cái gì? Thầy vẫn khỏe.”
“Thầy cứ ở yên trong nhà! Đừng đi đâu hết! Em lập tức sắp xếp người qua chỗ thầy!”
“Em…”
“Tút tút tút.”
Nó cúp máy.
Tôi cầm điện thoại, ngẩn ra mất ba giây.
Cái thằng này bốn mươi năm rồi mà tính tình chẳng thay đổi chút nào, vẫn cứ nghe gió là tưởng mưa.
Tôi còn nhớ có lần một con rắn bò vào lớp, cả đám học sinh sợ đến khóc ré lên, chỉ có mình Thiết Trụ cầm chổi lao tới, suýt nữa thì bị cắn.
Cuối cùng rắn chưa làm gì nó, tôi đã tóm cổ nó mắng cho một trận trước.
Tôi còn chưa kịp nghĩ xong chuyện cũ, điện thoại đã lại đổ chuông.
Lần này, trên màn hình hiện lên một cái tên khác.
Trương Tiểu Yến.
..